“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” - Sự khởi đầu mới cho công nghiệp văn hoá Việt Nam?

 
“Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” - Sự khởi đầu mới cho công nghiệp văn hoá Việt Nam? ảnh 1

Ảnh nguồn internet

 
Có lời hãy cất lời lên,
Có muộn em đợi, có quên em chờ.
Chờ anh từ thủa còn thơ,
Chờ hết mùa mận, mùa mơ, mùa đào.
Chờ anh cho tuổi em cao,
Cho duyên em nhạt, má đào em phai.

Ca dao Việt Nam cổ

Dân thị thành thời nay có đời sống khá nhàm chán. Ngày ngày người ta dùng nhiều thời gian để lướt web, góp chuyện vô bổ trên Facebook, lê la hết trà đá đến cà phê, tối xem tivi... Thời gian nhàn rỗi thì nhiều, trong khi cơ hội kiếm tiền lại ít, cơ hội học hành nghiên cứu cũng hiếm hoi, còn cơ hội thăng tiến, nếu không có gia thế, quan hệ, tiền bạc... lại càng không thể có. Nên câu hỏi "làm gì đây?" hay "không làm gì đây?" luôn lơ lửng trong đầu họ mỗi ngày... 
Thấy cơ cảnh đó, các doanh nghiệp, cả trong và ngoài nước, ào ào mở ra các rạp chiếu phim. Dã sử Tàu, tâm lý tình cảm Hàn quốc, hành động Mỹ, gia đình Ấn Độ… thôi thì đủ loại vây lấy người Việt. Xem mãi phim nhập khẩu cũng nhàm, ngán ngẩm như xơi quá nhiều thức ăn nhanh công nghiệp, mà chẳng ai thấy mình liên quan gì đến phim cả. Vậy nên người ta muốn được xem một bộ phim thuần Việt, như thèm ăn canh rau muống dầm sấu bữa trưa hè. Ước mơ tưởng chừng rất đơn giản đó xem ra lại không dễ thực hiện.
Vì các phim nhà nước đầu tư thường có chủ đề khá đơn giản với những mô típ từa tựa nhau, xa với cuộc sống hôm nay chừng nửa thế kỷ, ngây thơ và hơi cương lên một chút nhưng luôn có hậu. Dàn diễn viên thì tài sắc nhàn nhạt, diễn xuất vô hồn, có lẽ vì cát sê thấp do phải qua quá nhiều nấc trung gian. Và vì các mục đích giáo dục đặc sền sệt được rưới tràn trề vào từng cảnh, không phải bằng hành động hay thủ pháp điện ảnh, mà lại cứ bằng những lời thoại dạy đời...
Còn các phim tư nhân thì, tiếc quá, lại câu khách bằng cách chú trọng quá đà vào những khía cạnh dậm dật, nhớp nhúa, úp mở kiểu như chân dài nhún nhẩy, ma tuý xì ke, đồng tính... Nếu không thì lại là những phim hài đủ loại về những cái buồn cười và không buồn cười mấy trong xã hội, dàn dựng khiên cưỡng trên phông nền sang trọng quấy quá, hào nhoáng và phi thực…
Chờ mãi, bất ngờ Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh – bộ phim kết hợp giữa nhà nước và tư nhân, ra rạp. Và nó được người xem tán thưởng nhiệt thành, cứ nhìn cảnh nghẹt người lúc tan rạp vào nửa đêm thì rõ. Phim được giới truyền thông hoan nghênh nhiệt liệt, được ca tụng là một hướng đi mới thành công cho phim Việt, một giải pháp từ lâu hằng mong đợi cho những khoản đầu tư vào công nghiệp văn hoá nước nhà, vốn nhiều hào phóng mà ít hiệu quả. Có điều, nguyên nhân cho sự thành công đó là những cái quá kinh điển trong sách giáo khoa, ai cũng biết, nhưng không hiểu vì sao không thể thực hiện được ở Việt Nam ta?
Đầu tiên, phim hay phải có kịch bản hay. Ở đây là một kịch bản hay dựa trên tác phẩm của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh với một mạch chuyện phù hợp. Câu chuyện về cái ác của trẻ con và về cái thiện, cũng của trẻ con, đã dần dần biến cải ác thành thiện như thế nào. Ba lần làm việc ác của anh với đứa em, và đứa em biết điều đó, nó không hiểu được sao anh mình lại làm thế nhưng vẫn yêu quý thằng anh. Phim đã kể về những gì rất thật của con người: nhân chi sơ tính bản ác, như triết gia Trung Hoa Hàn Phi Tử đã nhận định hơn 2.000 năm về trước, khác hẳn người Việt chúng ta lâu nay thường cho rằng nhân chí sơ tính bản thiện. Phim tràn đầy lạc quan về cái thiện rồi sẽ thắng, người tốt sẽ được thấy hoa vàng trên cỏ xanh, như một sự ban thưởng tối hậu của tạo hoá. Một triết lý rất nhân văn trong thời đại máy móc và biến đổi khí hậu.
Tiếp đó, đạo diễn Victor Vũ đã làm cho kịch bản văn học trở thành câu chuyện điện ảnh với những cảnh quay đúng chuẩn, theo một mạch nhuần nhuyễn của trật tự điện ảnh, thể hiện tinh tế câu chuyện văn học. Người xem đã không thấy những đứt đoạn, những ghép nối nham nhở thường lồ lộ trong các bộ phim Việt, vốn không bị ràng buộc bởi tư duy hình ảnh, mà tuỳ thuộc nhiều vào sự mường tượng cẩu thả, méo mó của người thực hiện.
Lời thoại của phim, nhất là của những đứa trẻ, cũng là ngôn ngữ của đời sống, không phải văn diễn, khiến cho tình tiết trong phim sống động, đủ làm cho khán giả cười vang rạp. Chúng giúp họ tạm quên đi những điều sáo rỗng mà nhà trường đang rao giảng hàng ngày cho trẻ em qua các bài văn mẫu. Ấy thế mà câu chuyện lại không phải là thực tại cuộc sống, vì nếu nghệ thuật chỉ có thế thì ai thèm xem. Ở đây thực tế đã được cách điệu bằng nghệ thuật, với sự cao tay của đạo diễn.
Cuối cùng là có đủ tiền đầu tư, 21 tỷ đồng, cho khoảng thời gian dài hơn 2 năm làm phim. Thời gian đủ để đạo diễn xử lý cẩn thận từng cảnh quay mà không bị sức ép của kiểu làm phim mì ăn liền, không bị sức ép phải giải ngân mỗi khi hết năm như phim dùng tiền nhà nước. Và, nhất là, được chi những cái mà đạo diễn thấy cần thiết, với cái giá đúng là cần phải trả. Điều này, nếu sử dụng kinh phí nhà nước, sẽ không thể nào đáp ứng được, do vấp phải những quy định, thủ tục tài chính lỗi thời và những hạn mức (có thể đã tồn tại vài thập kỷ) mà một kế toán viên nào đó liệt kê ra.
Tuy nhiên, sự thành công của phim còn do một cái gì đó lớn lao hơn những chuẩn mực giáo khoa ai cũng biết mà không thực hiện được. Vậy cái chưa biết làm nên sự thành công của Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh là gì? 
Có lẽ, trên hết ở đây là xã hội Việt đã quá mệt mỏi với những câu chuyện cướp - giết - hiếp đang nhan nhản trên truyền thông đại chúng. Đến nỗi mà Bộ Thông tin Truyền thông đã phải định hướng về việc không đưa quá nhiều, quá đậm những nội dung đó trên báo chí. Một nhiệm vụ xem ra bất khả thi, vì có quá nhiều chuyện như thế đang xảy ra hàng ngày. Trong bối cảnh cuộc sống hãi hùng và cẳng thẳng đó, khán giả bị quyến rũ bởi một chủ đề rất thanh bình: hoa vàng và cỏ xanh. Phim ăn khách vì không chất thêm căng thẳng vào cuộc sống đã xạm màu bạo lực, vào âu lo thường trực vì lương tối thiểu không tăng bao nhiêu trong khi giá cả dập dờn lên xuống mà không biết tại sao.
Bằng hình ảnh tuyệt đẹp, bộ phim đã giãi bày niềm mơ ước về thuở xưa thanh bình, khi cái ác phải hiện nguyên hình là ác mà không bị bưng bít, ngụy trang bằng những lớp vỏ bọc cao cấp hay danh vị tôn quý, che đậy bằng hình ảnh ngày mai tươi sáng không thể có, hoặc không biết bao giờ mới có. Như một nhà triết học đã từng nói, khi đến với con người mà rao giảng bằng những cái không có, thì đấy là sự lăng mạ con người ghê gớm nhất. Khán giả cần sự phản ánh cuộc sống thực và bản chất đơn giản của nhân quả thời xa xưa, hoặc chưa xưa lắm, mà bộ phim đã đưa ra cho họ.
Ngạc nhiên hơn, có rất nhiều khán giả độ tuổi 25-30 đi xem phim, họ vốn là những người thường dùng thời gian nhàn rỗi buổi tối vào việc khác. Xem ra, những người trẻ tuổi này không chỉ biết thụ hưởng, lao vào các cuộc chơi ảo hay showbiz như các nhà quản lý xã hội hằng lo ngại. Có vẻ họ cũng rất biết tư duy về những gì đang diễn ra trong cuộc sống, và biết tìm chất liệu, cảm hứng cho quá trình định hướng tương lai. Đằng sau một mô típ cổ tích thông thường về nàng công chúa và hoàng tử, bộ phim quả là đã tạo ra nhiều cảm hứng để suy tư, trong đó đắt giá nhất là cảm xúc lành mạnh. Sự hưởng ứng đông đảo của nhóm khán giả trẻ có lẽ là bất ngờ lớn nhất và thành công nhất của bộ phim.
Theo một tầm nhìn khác, bộ phim còn thể hiện được vai trò lớn hơn, đó là mở ra hy vọng cho công nghiệp văn hóa nước nhà, điều đang được bàn thảo rầm rộ hiện nay. Xét về doanh thu thì rất có vẻ như vậy, dù rằng nhiều người trong Hội đồng quản trị Công ty cổ phần văn hoá Phương Nam vẫn đang lo ngại về cán cân thu/chi của phim. Nhưng doanh thu hơn 22,5 tỷ đồng sau 3 ngày ra rạp là tín hiệu khả quan. Xét về chủ đề thì đã là một sự bất ngờ, vì phim không chạy theo thị hiếu “giật gân” hiện hành mà vẫn tạo ra được một cái gì đó có vẻ như hiện tượng văn hóa. Còn xét về nền tảng thì bộ phim đã đóng một dấu ấn tốt cho thương hiệu phim Việt, có thể là một “viên gạch móng” để xây dựng nền công nghiệp văn hoá nghiêm túc, có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Có điều, cuộc sống là dòng chảy không ngừng, bất tận về phía trước. Rất ít cơ hội và thời gian để nhìn về phía sau, về thời xa vắng toàn hoa vàng với cỏ xanh. Thành công của bộ phim có thể chỉ là sự ngẫu nhiên may mắn, xảy ra một lần trong điều kiện đặc thù mà thôi. Nhưng cũng không loại trừ đó là một tín hiệu cho thấy thời kỳ trưởng thành của điện ảnh Việt Nam đang đến. Nếu suy nghĩ tích cực và nhận định đây là một “tín hiệu”, thì ngành điện ảnh Việt Nam nên coi "Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh" là bước xuất phát đúng hướng để tiếp tục phát triển. 

Kính Cận

Tin liên quan

Bạn đọc bình luận

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu
Nhập mã bảo mật (*)    Refresh

Cùng chuyên mục