Mã độc sân bay xuất hiện tại nhiều cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam

 
Tập đoàn công nghệ Bkav vừa công bố kết quả phân tích cho thấy mã độc tấn công hệ thống thông tin của Vietnam Airlines cũng xuất hiện tại nhiều cơ quan, doanh nghiệp khác.

Mã độc tấn công Vietnam Airlines
Ông Ngô Tuấn Anh, Phó chủ tịch phụ trách An ninh mạng của Bkav, hôm qua 8/8 cho biết: “Bkav đã theo dõi mạng lưới phần mềm gián điệp tấn công có chủ đích (APT) vào hệ thống mạng Việt Nam từ giữa năm 2012. Kết quả phân tích cho thấy mã độc tấn công Vietnam Airlines cũng xuất hiện tại nhiều cơ quan, doanh nghiệp khác bao gồm cả các cơ quan chính phủ, các tập đoàn, ngân hàng, viện nghiên cứu, trường đại học. Vấn đề này đã được Bkav nhiều lần cảnh báo rộng rãi”.
Mã độc mà ông Ngô Tuấn Anh nêu ra được sử dụng trong cuộc tấn công chiều 29/7/2016, khiến website của Vietnam Airlines bị deface với hình ảnh nhóm hacker 1937cn, đồng thời dữ liệu của hơn 400.000 khách hàng Bông Sen Vàng bị rò rỉ lên mạng. Chưa dừng lại, hệ thống âm thanh và thông báo tại cảng hàng không Tân Sơn Nhất và Nội Bài bị can thiệp, sửa đổi hiển thị hình ảnh và âm thanh xuyên tạc về vấn đề Biển Đông.

>> Toàn cảnh sự cố mất quyền kiểm soát thông tin tại Nội Bài và Tân Sơn Nhất

Đêm 29/7, các chuyên gia Bkav đưa ra nhận định, để thực hiện được cuộc tấn công này hacker đã xâm nhập được sâu vào hệ thống bằng cách sử dụng phần mềm gián điệp (spyware) theo dõi, kiểm soát máy của quản trị viên. Theo kết quả phân tích từ Bộ phận nghiên cứu mã độc của Bkav, mã độc sau khi xâm nhập vào máy tính sẽ ẩn mình dưới vỏ bọc giả mạo là một phần mềm diệt virus. Nhờ đó, nó có thể ẩn mình trong thời gian dài mà không bị phát hiện.

Mã độc tấn công Vietnam Airlines
Hiện tại đã xác định được mã độc trên thường xuyên gửi các dữ liệu về máy chủ điều khiển (C&C Server) thông qua tên miền Name.dcsvn.org (nhái tên miền của website Đảng Cộng sản). Trong đó Name là tên được sinh ra theo đặc trưng của cơ quan, doanh nghiệp mà mã độc nhắm tới. Mã độc có chức năng thu thập tài khoản mật khẩu, nhận lệnh cho phép hacker kiểm soát, điều khiển máy tính nạn nhân từ xa, thực hiện các hành vi phá hoại như xóa dấu vết, thay đổi âm thanh, hiển thị hình ảnh, mã hóa dữ liệu…Ngoài ra, mã độc còn có thành phần chuyên để thao tác, xử lý với cơ sở dữ liệu SQL.

Anh Tú

Tin liên quan

Bạn đọc bình luận

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu
Nhập mã bảo mật (*)    Refresh

Cùng chuyên mục