Khi các hãng công nghệ đổ về Việt Nam và nợ quốc gia tăng cao

Chia sẻ

Đủ mặt anh hào từ Intel, LG hay Samsung, Microsoft… với các dự định xây dựng Việt Nam thành một trung tâm hàng đầu thế giới trong việc cung cấp hàng điện tử cho nhân loại. Hình như ước vọng công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sắp thành công?

 Chuyện xảy ra ở Lạng Sơn vài năm trước. Khi một du khách Nhật Bản vào trụ sở cửa khẩu Việt nam, thấy toilet rất bẩn. Nói với người trưởng trạm điều này, người trưởng trạm xin lỗi và cho biết: trong tương lai, chúng tôi xây dựng trụ sở cửa khẩu lớn hơn mọi việc sẽ tốt hơn. Người du khách Nhật nhận xét: bây giờ mọi thứ còn nhỏ và đơn giản, sao ông không làm cho nó sạch lúc này, nếu không, làm sao các ông làm tốt được khi nó to lớn hơn.. (Theo Tiếp thị Sài Gòn, 9/2008)
Số liệu thống kê cho biết năm 2013 Việt Nam xuất khẩu 38 tỷ USD hàng hoá điện tử, xếp thứ 12 trên thế giới. Một con số không hề khiêm nhường chút nào. Chưa hết, trong năm 2014 này chúng ta lại còn thấy các hãng công nghệ dồn dập tiếp tục kéo đến, đủ mặt anh hào từ Intel, LG hay Samsung, Microsoft… với các dự định xây dựng Việt Nam thành một trung tâm hàng đầu thế giới trong việc cung cấp hàng điện tử cho nhân loại. Toàn là những doanh nghiệp nước ngoài danh tiếng cả. Hình như ước vọng công nghiệp hoá và hiện đại hoá của Việt Nam sắp thành công?

Có lẽ mọi sự không phải đơn giản như thế và chúng ta, cũng đã đến lúc, phải ngẫm nghĩ lại xem công nghiệp hoá và hiện đại hoá để làm gì và công nghiệp hoá và hiện đại hoá là gì.

Thông tin dồn dập trước ngày Quốc hội khai mạc kỳ họp cuối năm 2014 này cho biết nợ công quốc gia đã lên tới ngưỡng: năm 2015 sẽ là 64% GDP nợ Chính phủ, trong khi nợ của các doanh nghiệp nhà nước nếu được tính gộp vào đây thì sẽ là khoảng 200%. Nói là khoảng vì thực sự hiện nay ở nước ta không ai có thể nói chắc chắn nợ của các doanh nghiệp nhà nước này là bao nhiêu khi số lượng cụ thể không rõ đã đành, mà tỷ lệ sở hữu của nhà nước trong các doanh nghiệp đó cũng không được xác định chính xác. Và ai phải trả khoản nợ này càng không rõ: Chính phủ xem ra không muốn lĩnh trách nhiệm về việc dùng ngân sách nhà nước để thu xếp các khoản này, trong khi có vị lãnh đạo Quốc hội khẳng định doanh nghiệp nhà nước là của nhà nước thì phải dùng tiền nhà nước để xử lý. Hơn thế, ông chủ nhiệm Uỷ ban pháp luật Quốc hội còn mạnh dạn đề xuất nên chăng huy động người dân đóng góp để trả nợ quốc gia ! …?
Khi các hãng công nghệ đổ về Việt Nam và nợ quốc gia tăng cao ảnh 1

Biểu đồ nợ công Việt Nam 2004-2014 (ảnh Vnexpress.net). Theo The Economist, nợ công của Việt Nam tới tháng 5/2014 là 81,4 tỷ USD, tăng 11 % so với năm ngoái.

Vậy là có thêm câu hỏi được đặt ra một cách logic: nợ quốc gia có liên quan gì đến việc gia tăng sự đầu tư công nghệ cao nước ngoài vào Việt Nam hay không?
Từ từ ngồi ngẫm lại, mới ngộ ra rằng công nghiệp hóa và hiện đại hoá là ước vọng của mọi quốc gia, mọi dân tộc trên trái đất này, chứ đâu chỉ của riêng người Việt chúng ta. Công nghiệp hoá và hiện đại hoá cho phép tăng năng suất lao động, của cải của một dân tộc gia tăng nhanh chóng và ổn định, ngân sách quốc gia dồi dào và các khoản chi cho phát triển xã hội như y tế, giáo dục, phát triển giao thông, xoá đói giảm nghèo… đều trở nên khả thi. Nhờ đó, tình trạng ngân sách không có tiền để chi hay chi không đủ sẽ không xảy ra. Các quốc gia càng kém phát triển, ước vọng này càng cao.

Nghĩ thêm chút nữa, mới cảm thấy rằng hình như nhiều người dân nước ta nói chung, cũng như nhiều người trong giới lập chính sách nói riêng, đã không hiểu được thật rõ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là gì. Công nghiệp hoá ở Việt Nam đã có thời được quan niệm là quốc hữu hoá mọi cơ sở sản xuất công nghiệp và càng sản xuất tập trung lớn càng tốt. Rồi thì công nghiệp hoá lại được quan niệm cứ mở nhiều doanh nghiệp, thoát ly được nhiều lao động khỏi nông nghiệp là đủ. Gần đây nhất, lại là quan niệm cứ có nhiều doanh nghiệp với các sản phẩm công nghệ cao thì đó là cơ sở chắc chắn cho sự thành công của công nghiệp hoá và hiện đại hoá vì doanh nghiệp công nghệ cao sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ thấp hơn phát triển: cứ như là một phép bắc cầu đơn giản trong tư duy logic hinh thức duy vật biện chứng vậy.

Một quan niệm như vậy có thể đúng, nhưng chắc chắn là không đủ. Nhất là đối với một quốc gia lớn, có 90 triệu dân, đứng vào hàng thứ 14 trên thế giới như Việt Nam.

Đầu tiên là vì để cho các doanh nghiệp công nghệ cao của nước ngoài phát triển được ở nước ta, Việt Nam cũng phải có sự đầu tư nhiều vào đây. Tệ hơn, đó lại là những khoản đầu tư tinh tuý nhất cũng đang rất cần cho các doanh nghiệp trong nước: những khoảnh đất lớn ở những vị trí đắc địa gần sân bay, bến cảng, có đường sá tốt; những nguồn nhân lực khoẻ và có chất lượng cao cùng những ưu đãi, nhiều khi là vô bờ bến, về thuế khoá, về tiêu chuẩn môi trường cũng như về điều kiện làm việc tối thiểu cho những người lao động, mức lương tối thiểu và bảo hiểm xã hội… Đây là những nguồn tài nguyên có hạn, càng nhiều doanh nghiệp nước ngoài công nghệ cao càng tốn nhiều tiềm năng.

Và điều quan trọng cần ý thức rõ ở đây là những giá trị gia tăng lớn nhất từ các nguồn tiềm năng này không phải chảy về ngân sách Việt Nam, mà là chảy về chính quốc của các doanh nghiệp đó. Do vậy, phát triển các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ cao, dù là cực kỳ cần thiết, cũng cần có những tỷ lệ hợp lý.

Rồi một nguyên tắc tối quan trọng trong sự phát triển của những nền kinh tế đủ lớn là sự cân đối và hài hoà giữa các ngành, các lĩnh vực và các khu vực. Độ lan toả thúc đẩy của các doanh nghiệp công nghệ cao, được giả định là mũi nhọn, chỉ có thể có được khi chân đế của nền kinh tế là đủ vững mạnh để có thể tận dụng được những lan tỏa, kích cầu mà các doanh nghiệp đó mang lại. Còn nếu là một môi trường trống rỗng các doanh nghiệp nội địa bao quanh doanh nghiệp công nghệ cao nước ngoài, chúng ta sẽ chỉ tiếp tục làm gia công đơn giản mà thôi. Mà đã gia công đơn giản thì phần giá trị gia tăng được chia cũng sẽ rất đơn giản, bé tý teo.

Nên cứ nhìn sự phát triển công nghiệp ôtô thì rõ. Tỷ lệ nội địa hóa chưa vượt nổi 10% giá trị chiếc xe sau một phần tư thế kỷ. Hay sản xuất hàng phụ trợ ở Việt Nam cho hãng Samsung đến thời điểm này phần lớn các hãng đó đều là hãng nước ngoài, và chỉ có 4 doanh nghiệp Việt Nam được chọn tham gia vào cuộc chơi của Samsung mà thôi. Doanh nghiệp phụ trợ Việt đâu rồi khi mà nền kinh tế đang được cơ cấu theo một cách khác và tái cơ cấu nền kinh tế vẫn đang dừng phần nhiều trên giấy mà thôi?.

Cuối cùng sẽ còn một hậu quả bất ngờ. Những sự phát triển công nghệ cao của các doanh nghiệp nước ngoài mang lại thu nhập cho người dân và ngân sách nước nhà chưa bao nhiêu nhưng chính phủ các nước có doanh nghiệp công  nghệ cao làm ăn ở Việt Nam đã mở rộng hầu bao cho phép Việt Nam vay tiền dễ dàng hơn. Những khoản ODA, khoản vay dễ dãi nhưng đầy những điều kiện ưu đãi cho phía đối tác, điều làm cho những khoản vay đó đắt đỏ hẳn lên, xem ra đang được cung cấp khá hào phóng cho Việt Nam. Và những khoản tham nhũng liên quan đến ODA cũng đang là câu chuyện thời sự ở Việt Nam.

Chính những khoản vay dễ dãi này đã làm cho nợ nước ngoài tăng lên nhanh chóng, số tiền trả nợ tăng lên nhanh chóng và số tiền ngân sách còn lại để đầu tư cho phát triển cũng giảm một cách nhanh chóng. Tệ hơn, những khoản vay này làm cho nhiều quan chức Việt Nam mất hẳn ý thức thận trọng tối thiểu cần có khi đề xuất các khoản đầu tư. Cứ xem ông Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải nói nguồn tiền vay 2 tỷ USD cho sân bay Long Thành thì rõ: đầu tiên thì ông bảo là tiền vay của Chính phủ Nhật Bản, khi sứ quán Nhật Bản bác thông tin này ông bảo là của công ty Pháp ADPI, khi công ty Pháp không khẳng định điều này ông lại bảo là của công ty Pháp khác, ADPM, cơ... Dự án hàng chục tỷ USD mà cứ như chuyện đùa..

Vậy là chúng ta đang chứng kiến một nghịch lý rất ngoạn mục trong quá trình phát triển đất nước: càng gia tăng các doanh nghiệp công nghệ cao nước ngoài, khả năng cải thiện số nợ nước ngoài của chúng ta xem ra lại có thể càng xa vời.

Vậy mà, công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao nước ngoài đáng ra chẳng có tội tình gì trong việc nợ nước ngoài của Việt Nam cả. Cơ hội phát triển lúc này của Việt Nam là ở chỗ các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu các sản phẩm công nghệ cao hay không. Còn nếu chỉ để đi làm thuê thì có lẽ cứ giữ cho môi trường sạch sẽ để làm du lịch còn ích lợi hơn. Vấn đề quan trọng hơn là cách chúng ta điều hành nền kinh tế có phù hợp với quy luật của kinh tế thị trường hay không, có lựa chọn được những người xứng đáng để điều hành nó không và có đủ bản lĩnh để đi theo những định hướng đã lựa chọn hay không.

Đằng sau sự hào nhoáng của thuật ngữ công nghệ cao là những toan tính rất đời thường. Chỉ cần có những tư duy đời thường vì người dân Việt, bài toán công nghệ cao cũng dễ dàng giải được mà bài toán nợ công cũng không khó gì mà không giải được. Chúng ta hãy chờ xem.

Phạm Bích San

Chia sẻ

Bạn đọc bình luận

Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu
Nhập mã bảo mật (*)    Refresh

Cùng chuyên mục